
Việt Nam Trước Thách Thức Từ Con Đường Tơ Lụa Số Trung Quốc
Các tập đoàn Trung Quốc đang dần thâm nhập kiểm soát các mắt xích vận chuyển và lưu thông hàng hóa - mạch máu của nền kinh tế Việt Nam.
Từ tham vọng toàn cầu đến tác động khu vực
Tháng 3/2015, Trung Quốc chính thức giới thiệu Con đường Tơ lụa Kỹ thuật số (Digital Silk Road- DSR) như một bộ phận cấu thành của Sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI), nhằm mở rộng ảnh hưởng công nghệ và hạ tầng số của nước này ra toàn cầu.

"Con đường tơ lụa số" của Trung Quốc là một phần của Sáng kiến Vành đai và Con đường. Thiết kế hình ảnh: Mỹ Hạnh
Một số nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng, mặc dù chưa chính thức tham gia DSR như Lào, Thái Lan hay Ả-rập Xê-út, Việt Nam vẫn nằm sâu trong phạm vi ảnh hưởng của nó do quá trình thâm nhập có hệ thống của các tập đoàn công nghệ lớn Trung Quốc. Sự thâm nhập này chủ yếu được triển khai thông qua các hoạt động mua bán và sáp nhập (M&A) mang tính chiến lược.
Những vụ thâu tóm chiến lược
Tiếp tục tìm hiểu đề tài trên, nghiên cứu mới của nhóm tác giả từ Trường Đại học Sài Gòn và Đại học Quốc gia Hà Nội phân tích tác động của DSR đến thương mại điện tử và logistics - hai lĩnh vực lõi mà qua đó, các doanh nghiệp Trung Quốc có thể tác động sâu rộng đến nền kinh tế số và hành vi tiêu dùng của người Việt Nam.
Thị trường kinh tế số của Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ với tổng doanh thu đạt 36 tỷ USD vào năm 2024. Trong đó, thị trường thương mại điện tử có quy mô 25 tỷ USD, cao hơn 20% so với năm 2023, đưa Việt Nam vào nhóm 10 quốc gia có tốc độ tăng trưởng thương mại điện tử nhanh nhất thế giới.
Xem xét các thương vụ M&A trong lĩnh vực thương mại điện tử và logistics tại Việt Nam trong giai đoạn 2015-2024, nhóm tác giả phát hiện, nhờ các vụ thâu tóm mang tính chiến lược, ba tập đoàn công nghệ lớn của Trung Quốc - gồm Alibaba, Tencent và Jingdong (JD.com) - đã giành vị thế thống lĩnh, thâm nhập khoảng 99% thị trường thương mại điện tử của Việt Nam thông qua các nền tảng Shopee, Lazada và TikTok Shop. Cụ thể, Shopee chiếm 64% thị phần, Tiktok Shop - 29 %, Lazada - 6%, và chỉ để lại 1% cho hai nền tảng nội địa là Tiki và Sendo.
Trong cấu trúc thống lĩnh này, Shopee nổi lên là nền tảng chiếm thị phần lớn nhất, chủ yếu nhờ sự hậu thuẫn chiến lược về vốn, công nghệ và hệ sinh thái từ Sea Limited - tập đoàn công nghệ Singapore đóng vai trò cổ đông chính và kiểm soát hoạt động của Shopee. Vào năm 2018, khi Shopee gia nhập thị trường Việt Nam, Tencent, tập đoàn công nghệ hàng đầu Trung Quốc, đang là cổ đông lớn nhất của Sea Limited, với gần 40% cổ phần.
Lazada, nền tảng xuất hiện rất sớm tại Việt Nam từ năm 2012, cũng nhận được sự hỗ trợ vô cùng lớn từ Alibaba. Năm 2016, tập đoàn thương mại điện tử nổi tiếng này chi 1 tỷ USD để mua lại phần kiểm soát Lazada từ công ty mẹ Rocket Internet (Đức). Kể từ đó đến năm 2024, Alibaba đã đầu tư vào Lazada 7,7 tỷ USD, cho thấy Lazada là một chiến lược đầu tư quy mô lớn của Alibaba.
Tiktok Shop - nền tảng trực tiếp thuộc sở hữu của công ty công nghệ Trung Quốc ByteDance, gia nhập thị trường Việt Nam muộn nhất, vào năm 2022, nhưng đã nhanh chóng thay đổi cục diện thị trường bằng việc thúc đẩy mô hình kinh doanh thương mại xã hội (social commerce), nơi nội dung, tương tác xã hội và hành vi mua sắm diễn ra trong cùng một không gian.
Ba doanh nghiệp kể trên có điểm chung là đều triển khai đầu tư quy mô lớn, chấp nhận thua lỗ trong thời gian đầu để thu hút người dùng. Điển hình là việc Sea Limited mua lại ứng dụng giao đồ ăn Foody vào năm 2017 - một năm trước khi đưa Shopee vào Việt Nam, rồi biến Foody thành Shopee Food để mở rộng dịch vụ và củng cố lượng người dùng cho Shopee.
Trong quá trình hoạt động tại Việt Nam, các nền tảng thương mại điện tử do các tập đoàn công nghệ Trung Quốc hậu thuẫn áp dụng chiến lược "đốt tiền" mạnh tay để nhanh chóng chiếm lĩnh thị phần. Kết quả, môi trường kinh doanh trở nên cạnh tranh khốc liệt cho các nền tảng nội địa. Trong đó Sendo do Tập đoàn FPT thành lập - đã phải rút khỏi thị trường vào tháng 4/2025 và tái định vị thành Sendo Farm, chỉ còn tập trung vào mảng nhỏ hơn là bán lẻ thực phẩm trực tuyến. Tiki, từng tự hào là "Amazon của Việt Nam", cũng gặp khó khăn tài chính để rồi đến năm 2018, nền tảng này bắt đầu chuyển nhượng khoảng hơn 25% cổ phần cho tập đoàn công nghệ Jingdong.
Bên cạnh hậu thuẫn các nền tảng thương mại điện tử, các tập đoàn công nghệ Trung Quốc còn thiết lập ảnh hưởng đáng kể đối với hệ sinh thái logistics.

M&A giúp hình thành hệ sinh thái số khép kín, nơi dữ liệu và hành vi tiêu dùng có thể được kiểm soát một cách tập trung. Ảnh: CC
Hiện nay, mảng chuyển phát nhanh trong ngành logistics, đặc biệt phục vụ thương mại điện tử, cơ bản nằm trong tay 6 công ty: Viettelpost (17%), Shopee Express (15%), VNPost (14%), Giao Hàng Tiết Kiệm (14%), Giao Hàng Nhanh (8%), J&T Express (11%).
Trong đó, chỉ có Viettelpost và VNPost vẫn thuộc quyền kiểm soát của Việt Nam. Bốn doanh nghiệp còn lại đều nhận được đầu tư đáng kể từ các tập đoàn Trung Quốc.
Điển hình là Giao Hàng Tiết Kiệm do Sea Limited nắm giữ hơn 78% cổ phần thông qua các công ty trung gian.
Shopee Express thì thuộc về nền tảng thương mại điện tử Shopee.
Giao Hàng Nhanh cũng không phải ngoại lệ khi công ty mẹ Scommerce (Việt Nam) có cổ đông lớn nhất là Ficus Asia Investment, pháp nhân đầu tư đăng ký tại Singapore mà Alibaba sử dụng để thực hiện các thương vụ M&A tại thị trường Đông Nam Á - hay nói cách khác là "công ty đứng tên đầu tư hộ" cho Alibaba ở Đông Nam Á.
J&T Express có trụ sở chính tại Hong Kong (Trung Quốc), gia nhập thị trường Việt Nam vào năm 2018 và mở rộng hoạt động thông qua thương vụ mua lại Công ty TNHH MTV Chuyển phát nhanh Thuận Phong (Việt Nam) vào năm 2021.
Đáng lưu ý, các tập đoàn công nghệ Trung Quốc đã xây dựng thành công một hệ thống kinh doanh khép kín. Giao Hàng Tiết Kiệm là đối tác chính của Shopee từ năm 2016, nhờ vậy đã đạt được tăng trưởng ấn tượng: doanh thu năm 2022 cao hơn 25% so với năm 2021 và gấp 25 lần doanh thu năm 2017.
Trong khi đó, Giao Hàng Nhanh hưởng lợi từ sự hợp tác với Lazada. Ngay cả sau đại dịch Covid (2021- 2023), tốc độ tăng trưởng doanh thu của Giao Hàng Nhanh cũng đạt 26-48%.
Mối đe dọa từ cuộc thâm nhập "ngầm"
Việc các tập đoàn Trung Quốc kiểm soát các mắt xích quan trọng trong hệ thống phân phối và lưu thông hàng hóa - được ví như "mạch máu của nền kinh tế" - đang đặt ra những thách thức lớn cho các cơ quan quản lý nhà nước của Việt Nam, bao gồm việc giám sát hoạt động kinh doanh, thu thuế hiệu quả, kiểm tra chất lượng sản phẩm, cùng với nguy cơ mất kiểm soát đối với lượng dữ liệu khổng lồ về thói quen mua sắm và hành vi tiêu dùng của người Việt Nam. Những thông tin này có thể được lợi dụng cho mục đích thương mại hoặc thậm chí ảnh hưởng đến an ninh kinh tế quốc gia.
Đáng nói hơn là DSR và các công nghệ số của Trung Quốc đã thâm nhập sâu vào thị trường Việt Nam trong bối cảnh thiếu vắng các khuôn khổ hợp tác song phương chính thức cũng như các cơ chế giám sát hiệu quả từ phía nhà nước. Việt Nam hiện vẫn chưa có đủ các công cụ chính sách cần thiết để kiểm soát và ngăn chặn hiệu quả các hoạt động M&A được sử dụng như một công cụ "phi chính thức" để mở rộng ảnh hưởng của DSR ra nước ngoài.
Sự thâm nhập "ngầm" của các tập đoàn công nghệ Trung Quốc tiềm ẩn những rủi ro nghiêm trọng về an ninh dữ liệu và chủ quyền số. Khi các tập đoàn này kiểm soát các hệ sinh thái số tích hợp - gồm các nền tảng và dịch vụ số liên thông, bao phủ toàn bộ chuỗi giá trị từ tiếp cận người dùng, giao dịch, thanh toán, logistics đến quản trị dữ liệu - những rủi ro đa chiều bắt đầu xuất hiện, đó là khả năng xâm phạm an ninh dữ liệu tài chính cá nhân, truy cập trái phép vào hành vi người tiêu dùng, nguy cơ bị lộ thông tin thương mại nhạy cảm của doanh nghiệp trong nước, cũng như việc thu thập và tích lũy dữ liệu cá nhân của người dùng Việt Nam trên quy mô lớn.
Đặc biệt, khi người dùng Việt Nam thực hiện toàn bộ các hoạt động từ mua sắm, giao nhận đến thanh toán trong cùng một hệ sinh thái số khép kín, khối lượng dữ liệu cá nhân và dữ liệu hành vi được thu thập không chỉ tăng lên về quy mô mà còn đạt độ chi tiết rất cao. Điều này làm tăng rủi ro xâm phạm quyền riêng tư cá nhân, đồng thời tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến chủ quyền số quốc gia, khi các dòng dữ liệu quan trọng phản ánh cấu trúc tiêu dùng, hoạt động kinh tế và xã hội của Việt Nam có thể bị các chủ thể nước ngoài kiểm soát và khai thác.
Những phát hiện nêu trên cho thấy việc DSR thâm nhập vào Việt Nam thông qua các hoạt động M&A không đơn thuần là vấn đề kinh tế, mà còn đặt ra các thách thức nghiêm trọng liên quan đến chủ quyền số, an ninh quốc gia và định hướng phát triển bền vững của Việt Nam trong dài hạn.
Để thích ứng, theo nhóm tác giả, ưu tiên hàng đầu là hoàn thiện khung pháp lý điều chỉnh các hoạt động thương mại điện tử.
Tiếp theo, cần xây dựng chủ quyền số và tự chủ công nghệ thông qua các hợp tác quốc tế về an ninh mạng và chuyển đổi số với các quốc gia phát triển như Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc hay khu vực ASEAN.
Một chiến lược then chốt khác là đa dạng hóa đối tác công nghệ, tích cực tham gia các diễn đàn song phương, góp phần xây dựng khuôn khổ pháp lý và tiêu chuẩn công nghệ toàn cầu, từ đó nâng cao tiêu chuẩn trong nước.
Cuối cùng, cần nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nội địa, phát triển một hệ sinh thái doanh nghiệp vững mạnh, trong đó có những doanh nghiệp "đầu tàu" để duy trì tự chủ kinh tế, hạn chế các ảnh hưởng không mong muốn.
Kết quả nghiên cứu được đăng trên tạp chí Sage Open (Q1 SCImago).
Nguồn trích dẫn
Bài viết được trích dẫn từ:
- Nguồn: Báo Tia Sáng
- Cre: Diễm Quỳnh
Xem bài viết gốc ở đường link bên dưới...









